Thứ Ba, 26 tháng 6, 2012

Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam - Phan Hoàng ( có Ba tôi )


Ngành tình báo luôn đóng vai trong hết sức quan trọng. Và ở đó, đã sản sinh những nhà tình báo mà sự nghiệp của họ đôi khi như huyền thoại. Một trong những nhà tình báo Việt Nam nổi tiếng ấy là Trần Văn Danh, người đứng đầu ngành quân báo miền Nam thời chống Mỹ. Frank Snepp, một nhân vật cao cấp của CIA Sài Gòn trước năm 1975, trong cuốn Khoảng cách thời gian vừa phải xuất bản năm 1977 ở New York cũng đã nói rằng Trần Văn Danh là một trong bốn nhà tình báo quan trọng hàng đầu của Việt cộng. Từ một học sinh yêu nước của Mười tám thôn Vườn Trầu-Hóc Môn, Trần Văn Danh trở thành chiến sĩ quân báo quả cảm ở miền Đông Nam Bộ, rồi dần được giao các nhiệm vụ: tham mưu phó phụ trách tình báo chiến lược, đặc công và biệt động của Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, phó trưởng Đoàn đại biểu Liên hiệp Quân sự bốn bên của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông chỉ huy lực lượng đặc công và biệt động Sài Gòn, vừa mở đường cho các cánh quân vừa hạn chế nguy cở đổ nát của thành phố khi đại quân tiến vào. Từ tướng tình báo, Trần Văn Danh trở thành tướng kinh tế khi được phân công tiếp quản và xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, rồi đứng đầu kế hoạch xây dựng công trình thủy điện Trị An. Ông được Nhà nước phong Anh hùng Lao động năm 1990 và thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất. Vẫn với phong thái của một nhà tình báo, nhìn thẳng vào mắt chúng tôi, ông nói:


-Thật ra, cuộc đời tôi không có gì đáng nói nhiều đâu. Điều mà tôi mong muốn là báo chí hãy đề cập đến hàng vạn đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuốn cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Bởi cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến tranh nhân dân, mọi thành bại do nhân dân quyết định.




-Nhưng thưa thiếu tướng, cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng.


-Đồng ý. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân thì thật tai hại.




-Vâng, có lẽ vì vậy mà trong báo cáo của Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa IX mới đây, cho rằng chủ nghĩa cá nhân là nguy cơ “bao trùm lên trên bốn nguy cơ” của đất nước mà Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ Khóa VII đã chỉ rõ. Thưa Thiếu tướng, Thiếu tướng có suy nghĩ gì về tình hình đất nước hiện nay?


-Chính sách mở cửa đưa nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, là điều đáng mừng. Tuy nhiên, nạn mafia, buôn lậu, nhất là hàng loạt vụ tham nhũng làm tổn hại hàng ngàn tỉ đồng của Nhà nước, làm mất lòng tin nhân dân, kiềm chế sự phát triển của đất nước, là điều đáng lo ngại.




-Lăn lộn từ chiến trường lửa đạn đến chiến trường kinh tế, nay đã ở tuổi “cổ lai hy”, trái tim Thiếu tướng vẫn còn hết sức nhạy cảm trước thời cuộc, trước vận mệnh quốc gia. Riêng về bản thân mình, có khi nào nằm hồi tưởng lại, kỷ niệm tuổi ấu thơ chợt hiện về trong tâm khảm Thiếu tướng không?


-Tuổi thơ của tôi ư? Nhiều lúc tôi không dám nghĩ đến. Mà càng nghĩ thì càng buồn, càng thương cho người mẹ nghèo bất hạnh của tôi. Mẹ tôi người Bến Tre, đi làm cô mụ và gặp cha tôi ở Hóc Môn, Sài Gòn. Cha tôi làm Hương cả trong làng, đã có vợ lớn. Ông nội tôi rất khắt khe. Vì vậy, mẹ con tôi phải sống cách ly rất xa, bà vừa đi bán hàng rong vừa trồng rau nuôi heo để nuôi sáu đứa con nhỏ, trong đó chỉ có một mình tôi là con trai. Khổ cực lắm! Chị em tôi ngày ngày vào rừng Thới Tam Thôn mót củi giúp mẹ. Tôi tuổi Hợi, sinh năm 1923, do luật phát không cho phép nên khai sinh tôi lấy họ mẹ. Mẹ tôi là Trần Thị Thảnh. Còn tôi là Trần Văn Ba. Vì vậy, sau này anh em hay gọi tôi là Ba Trần.




-Thế còn Trần Văn Danh?


-Đó là một tên khác khi tôi vào Đảng. Hồi tôi học lớp nhứt ở thị trấn Hóc Môn, thấy tôi tên Ba, một ông thầy nói: Mầy tên Ba, mỗi lần kêu tao phải nói “Ba ơi!”. Ông bảo tôi đổi tên thành Bá. Do đó, tên đi học của tôi là Trần Văn Bá (cười).




-Sau này lớn lên Thiếu tướng có gặp lại cha.


-Có chứ. Năm mười tám tuổi, tôi đến tuổi đóng thuế thân, cha tôi thừa nhận là con, từ đó khai sinh mới có tên cha. Chẳng qua, vì lễ giáo mà mẹ con tôi phải sống riêng, chứ cha tôi rất thương và luôn tìm cách đến thăm. Về sau, cha tôi trở thành một cơ sở cách mạng, đã được Chính phủ tặng bằng khen có công với nước. Khi tôi được mười hai tuổi, cha tôi hay sai tôi bí mật đi rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày tôi lên đường vào chiến khu, ông động viên tôi hãy yên tâm chuyện gia đình lo cố gắng đánh giặc.




-Thiếu tướng còn nhớ gì về thời tuổi trẻ của mình giữa Mười tám thôn Vườn Trầu nổi tiếng?


-Cuộc sống người nông dân cực kỳ cơ cực, đói khổ. Phong trào yêu nước, cách mạng ở quê tôi luôn âm ỉ, sôi sục. Năm mười sáu tuổi, tôi thi đậu trường Bá Nghệ, nay là Trường kỹ thuật Cao Thắng. Tôi rất thích nghề xây dựng. Tôi mua sách Pháp về toán, lý, hóa để tự học thêm. Vừa học tôi vừa làm thêm kiếm sống. Ban ngày thì lãnh mẫu mã từ văn phòng các kiến trúc sư về vẽ, tính toán; trong đó có “hàng” của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Ban đêm còn đi làm thêm nghề cơ khí. Nhưng rồi Nhật đảo chánh Pháp, trường Bá Nghệ đóng cửa, tôi quay về Hóc Môn.




Trước đó, một chiều sau khi ăn cơm ở Chợ Quán, tôi đạp xe về nhà. Đến ngang rạp Nguyễn Văn Hảo, nay là rạp Công Nhân, tôi phải xuống xe dắt bộ vì lính Nhật tắm chật đường bên các vòi nước ở lề đường. Chúng tám trần truồng như nhộng. Thấy vậy, tôi nói: “Nghe nước Nhật tự xưng là cường quốc, sao chẳng văn minh chút nào, tắm ở truồng”. Ngỡ chỉ nói với người đi đường, bọn Nhật không nghe được, vì chúng không biết tiếng Việt. Không ngờ, có một tên trong bọn đang tắm kêu tôi lại bằng tiếng Việt rất sõi và hỏi tôi vừa nói gì. Tôi cũng nói lại y như vậy. Nó mới cười mỉa mai: “Tắm truồng không có gì xấu. Mất nước mới là nhục”! Tôi tức đến tái mặt, muốn đấm thẳng vào mặt nó. Chính điều này giúp tôi hiểu ra nhiều lẽ, nhen nhóm trong tôi lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Đúng, mất nước đúng là nỗi nhục lớn nhất!
-Cũng từ đó Thiếu tướng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng?


-Vâng. Tháng 7 năm 1945, tôi tham gia tổ chức bí mật Thanh niên Cứu quốc. Sau đó, đi cướp chính quyền ở Hóc Môn rồi kéo về trung tâm thành phố. Trên đường đi, ngang bót Đội Có, địch bắn chết chú Tám Thôi-anh bà Hồ Thị Bi. Một thời gian sau, Pháp tái chiếm Nam Bộ, đưa quân lên Hóc Môn. Lực lượng cách mạng tạm thời phân tán. Tôi gia nhập đội trinh sát Quân khu 7, chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ, chiến trường mà tôi gắn bó gần cả cuộc đời.




-Nghĩa là Thiếu tướng trở thành chiến sĩ tình báo một cách ngẫu nhiên không hề có định hướng trước.


-Tính tôi thích mạo hiểm, cộng với lòng căm thù giặc, tôi không hề biết run sợ trước cái chết. Địa bàn miền Đông, trong đó có Sài Gòn-Chợ Lớn, tôi nắm trong tay từng kênh rạch, con hẻm. Năm 1949, tôi được đề bạt làm tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo tỉnh Thủ-Biên. Khi tập kết ra Bắc, tôi là phó chính ủy Trung đoàn 556, trung đoàn có nhiều đóng góp trong suốt chín năm đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ.




-Thiếu tướng trở lại chiến trường miền Nam khi nào?


-Gần sáu năm sau. Ra Bắc, tôi được gắn quân hàm Thiếu tá và đi học văn hóa lẫn ghiệp vụ chuyên môn tình báo. Đến tháng 12 năm 1960, tôi vượt Trường Sơn về Nam. Trước khi lên đường, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn có đến thăm đoàn và chỉ thị rằng: “Các đồng chí ra Bắc đã học tập tốt, nay nhanh chóng về Nam cùng các đồng chí trước đây ở lại cùng tổ chức quần chúng nổi dậy, lôi kéo binh lính địch, chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hiện nay chúng ta vẫn còn một cái nhục là nhục mất nước”.




Trên đường, tôi bị viêm phổi nặng, cứ ngỡ không qua khỏi. Đường đi lúc đó muôn vàn khó khăn. Bởi đoàn chúng tôi gần như tiền trạm. Có một kỷ niệm vui mà tôi nhớ mãi. Khi đoàn đến vùng sông Re thuọc Quảng Nam, vì đói quá tôi đem một bộ đồ bà ba đen ra buôn người dân tộc đổi một chó về làm thịt. Người Bắc rất thích thịt chó, còn người Nam trước đây ít ăn. Anh em trạm giao liên có cho tôi một lon thịt heo nhưng do không có muối ướp nên bị hôi. Tôi đem thịt chó còn lại trộn với thịt heo để dành. Sang ngày hôm sau, mở lon thịt ra thị thật bất ngờ: thịt heo không còn mùi hôi nữa! Nghĩa là nhờ một chất đạm đặc biệt trong thịt chó đã khử mùi hôi của thịt heo. Một phát hiện thú vị. Tôi liền đi khoe với anh em (cười sảng khoái)…




-Thưa Thiếu tướng, Thiếu tướng gặp ai đầu tiên và nhận nhiệm vụ gì khi trở lại Nam Bộ?


-Người đầu tiên tôi gặp là anh Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh. Tôi về Nam một thời gian thì Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Quân sự Miền, do anh Trần Văn Quang làm trưởng ban. Tôi được phân công làm trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền, sau được đề bạt làm phó tham mưu trưởng Miền phụ trách tình báo, đặc công, biệt động. Công việc của tôi dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, mà cụ thể là các anh Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, rồi Phạm Hùng, Trần Văn Trà.




-Thiếu tướng đánh giá thế nào về vai trò của công tác tình báo trong toàn cuộc chiến?


-Qua bảy năm thực hiện Hiệp định Genevè, lực lượng tình báo của ta bị thất bại rất nặng. Chính quyền Ngô Đình Diệm triệt phá và bắn giết, bỏ tù hàng loạt cán bộ tình báo. Do đó, khi tôi trở về Nam cũng là lúc ta bắt tay xây dựng lại ngành tình báo. Bằng cách tăng cường cán bộ từ Ban Địch tình. Lợi dụng sơ hở của địch do mâu thuẫn nội bộ của chúng, ta đã giải thoát cán bộ tình báo đang bị tù đày, bố trí hoạt động trở lại. Từ đó, tìm cách đưa các chiến sĩ tình báo len vào các cơ quan đầu não của địch để khai thác tin tức, tư liệu như: Tòa Đại sứ Mỹ, Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Đặc ủy Trung ương tình báo, Hạm đội 7,… Có thể nói, ngành tình báo đã cung cấp những tin tức kịp thời phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo chiến lược của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong việc chỉ đạo chiến tranh.




Như bắt được “mạch”, câu chuyện giữa vị tướng và tôi càng lúc càng thân tình, cởi mở. Nụ cười “lộ diện” nhiều hơn trên khuôn mặt cương nghị ẩn dưới chiếc mũ diềm đen và cặp kính màu mà theo ông nó giúp che chắn, bảo vệ cơ thể tốt hơn. Có lẽ phần nào nhờ vậy, ở giữa tuổi thất tuần, trông ông vẫn rất “phong độ”. Nếu chưa biết ông mà tình cờ gặp, khó ai ngờ rằng đây là con người từng nhiều năm nằm rừng ngủ núi, cả thời chiến lẫn thời bình. Trong giờ “giải lao” giữa câu chuyện, vị tướng cho tôi xem một số tấm ảnh kỷ niệm thời còn trẻ. Ông bảo:


-Tôi được khen là người có thân hình khỏe đẹp. Tôi ghiền chơi thể thao lắm, nhất là bóng đá. Chỉ khi ra trận thì thôi, chứ lúc ở chỉ huy sở, tôi tranh thủ tập luyện và lao động chân tay.-Đầu năm 1973, Thiếu tướng là phó trưởng Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ cách mạng miền Nam trong Ban Liên hiệp Quân sự bốn bên Trung ương vào Tân Sơn Nhất thực thi Hiệp định Paris. Thiếu tướng còn nhớ thành phần của đoàn khi đó gồm những ai? Và ấn tướng nào đáng nhớ khi đặt chân trở về Sài Gòn?


-Chúng tôi vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hiệp Quân sự bốn bên thật giống như Quan Công thời Tam Quốc đi dự hội Bàn Đào. Xung quanh kẻ địch luôn tìm cách bao vây, uy hiếp tứ bề (cười). Một ngày đầu tháng Giêng năm 1973, tại Sở chỉ huy Miền, sau khi nhận chỉ hụy của Trung ương, tôi với anh Trần Văn Trà cùng bàn bạc chọn nhân sự, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống bất trắc… Tôi thay anh Trà chỉ huy thực hiện mọi công việc. Còn anh Trà lo Bộ Tư lệnh Miền để bàn phối hợp đấu tránh giữa chiến trường với bàn hội nghị.




Anh Trần Văn Trà là trưởng đoàn, lúc đó mang quân hàm Trung tướng. Các phó trưởng đoàn gồm Đại tá Võ Đông Giang, Đại tá Đặng Văn Thu tức Đoàn Huyên sau này là Thiếu tướng, và tôi. Để giữ bí mật theo yêu cầu của Trung ương, lúc đó tôi lấy tên là Trần Quốc Minh, mang quân hàm Đại tá. Đoàn còn có các ủy viên gồm các anh: Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư cùng nhiều đồng chí ở các bộ phận khác. Ngoài nhiệm vụ phó trưởng đoàn, tôi còn phụ trách trưởng Tiểu ban hai bên.




Theo thỏa thuận, ngày 28 tháng 11 năm 1973, đoàn vào Sài Gòn bằng máy bay Mỹ lên đón tại sân bay Thiện Ngôn ở phía Bắc Tây Ninh. Nơi đây vốn là căn cứ của một chiến đoàn Mỹ chuyển giao cho quân đội Sài Gòn và bị ta đánh chiếm trong chiến dịch Nguyễn Huệ hồi năm 1972. Bên cạnh đó, đề phòng sự phản trắc của địch, ta chuẩn bị thêm một địa điểm khác cho đoàn. Đó là sân bay Lộc Ninh ở phía Bắc Bình Long, sát biên giới cam, cũng được giải phóng năm 1972.




-Vì sao cuối cùng đoàn lại xuất phát tại Lộc Ninh?


-Vì do địch giở trò phá hoại. Đúng như dự kiến, đến giờ hẹn, máy bay lên thẳng Mỹ không tới đón, mà thay vào đó là hai máy bay chiến đấu của quân đội Sài Gòn. Chúng lượn quanh sân bay Thiện Ngôn và ném bom hù dọa. Ngay tức khắc, ta lên án mạnh mẽ hành động lật lọng đó và quyết định chuyển điểm hẹn sang Lộc Ninh. Ta đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho đoàn. Và ngày 1 tháng 2 năm 1973, ba đợt máy bay Mỹ đầu tiên đã lên đón. Lộc Ninh là thị trấn đông dân, được xem như thủ phủ của vùng giải phóng, nên đồng bào đến đưa tiễn đoàn đại biểu ta rất đông. Cờ, hoa, biểu ngữ tấp nập như ngày hội. Cũng từ đó, Lộc Ninh trở thành nơi đưa đón cho các chuyến bay liên lạc hàng tuần của đoàn ta ở trại David với cơ quan lãnh đạo chỉ huy Miền.




-Và như vậy, Thiếu tướng cùng đoàn đại biểu đã đến điểm “hội Bàn Đào”


-Chưa hết. Chúng tôi vừa xuống máy bay, quân cảnh Sài Gòn chờ sẵn ở Tân Sơn Nhất, liền cản ngăn và chửi rủa om sòm. Chúng bảo bọn Việt cộng ở trong rừng bị máy bay bắn chết hết, chỉ còn một vài đứa ốm yếu xanh xao, sao giờ lại có thăng to cao, mập mạnh, đỏ au thế này? Trong hồi ký của mình về thời điểm đó, anh Trần Văn Trà cũng nói rằng anh tin ở khả năng của tôi vì thôi thạo Sài Gòn, hiểu biết nhiều về địch và địch sẽ nể nang tôi do dáng người bề thế, trắng, mập, chững chạc…




Lúc đó, trước sự truy cản của bọn quân cảnh Sài Gòn, tôi bảo anh Tư Bốn tức Nguyễn Hữu Trí lại hỏi vì sao không cho mình đi. Tư Bốn tiến đến, tên chỉ huy quân cảnh ngạc nhiên: “Ủa anh Tư, sao anh ở đây?”. Tư Bốn: “Tao là trung tá tình báo Việt cộng”. Tên sĩ quan này vốn mắc nợ tiền Tư Bốn khi anh còn hoạt động bí mật ở Sài Gòn, nên hắn ngại liền giục bọn lính: “Thôi, tụi bay để anh Tư đi”.




-Đã gần hai mươi lăm năm trôi qua, Thiếu tướng còn nhớ gì về hình ảnh trại David ở Tân Sơn Nhất?


-Trước đó, nó là doanh trại của không quân Mỹ, nằm sát góc tây nam sân bay. Nghe nói, David vốn là tên của người lính Mỹ đầu tiên chết ở miền Nam Việt Nam. Khu doanh trại có hình chữ V, gồm ba dãy nhà gỗ quây quần thành chữ U. Trong lòng chữ U có vài căn nhà xây trệt dùng làm nơi sinh hoạt tập thể. Đường nội bộ trán nhựa, chạy giữa các dãy nhà. Có sân quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền. Tôi nhớ anh Lê Đức Thọ và Phạm Hùng từng nói vui rằng, trại David là “vùng giải phóng đầu tiên của ta tại Sài Gòn” Hai đoàn đại biểu quân sự miền Bắc và miền Nam của ta ở đây hơn hai năm. Khi Sài Gòn vừa được giải phóng, trại David trở thành “đại bản doanh” đầu tiên của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đối với tôi, trại David là điểm dừng chân đầu tiên khi trở về quê hương sau gần hai mươi năm xa cách.
-Không những là tướng chỉ huy tình báo, Thiếu tướng còn là tướng chỉ huy trận mạc. Trong Chiến dịch Phước Long mở màn cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975, xuất hiện giai thoại “Ba ông giải phóng hai bà” nghĩa là sao, thưa Thiếu tướng tướng?


-(Cười) Ba ông là Năm Thạch tức Hoàng Cầm, Năm Ngà tức Nguyễn Minh Châu và Ba Trần là tôi. Ha bà là… Bà Đen và Bà Rá. Tôi là người trực tiếp chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ở Tây Ninh, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là điểm chỉ đường cho B52 cùng các loại máy bay hiện đại. Đồng thời, lực lượng do tôi chỉ huy còn thu hút hỏa lực đối phương là Lữ đoàn Biệt kích dù 81 và hai phần ba phi cơ chiến đấu F5E Vùng 3 chiến thuật; kiềm chế Sư đoàn 25 bộ binh; phối hợp cùng cánh quân anh Năm Ngà đang đánh Tánh Linh, Võ Đắc với Sư đoàn 18 của địch; ngăn chặn không cho các lực lượng đối phương yểm trợ Phước Long-trận địa của Quân đoàn 4 do anh Hoàng Cầm chỉ huy.




Chiến dịch Phước Long là chiến dịch mà lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh và giúp ta phát hiện rằng Mỹ không dám đưa quân sang nữa, để đi đến kế hoạch tác chiến giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.




Trong cuốn sách Một chương bi thảm của Dương Hảo do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành, Đại tá Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận ngụy Phạm Bá Hoa đã cay đắng nói rằng: “Cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của quân lực cộng hòa. Chỉ mới đánh một điểm ma đã không còn lực để đối phó, hỏi vị đánh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước Long là sự kiện nói lên khá rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã thực hiện trong sáu năm qua. Trước đây, quân đội cộng hòa qua được nhiều hiểm nghèo là nhờ vào cứu viện của Hoa Kỳ. Họ đã cung cấp đủ mọi trang bị bù đắp tổn thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mãnh mẽ, thậm chí cả xung lực mới đủ sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả một tỉnh mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng đã chính thức gởi công hàm, rồi tướng Khuyến đã điện đàm trực tiếp với Xmit (Trước cơ quan DAO)-Tất cả đều là con số không”.




-Hình như những năm đầu của thập niên 1970, Thiếu tướng có đi làm nhiệm vụ quốc tế…


-Có. Tôi sang nước bạn làm nhiệm vụ hai năm, từ 1970-1972. Nhưng… đây là bí mật quốc gia.




-Được biết, Thiếu tướng là vị chỉ huy trực tiếp lực lượng vòng trong gồm đặc công và biệt động Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Thiếu tướng còn nhớ gì về diễn biến tình hình lúc đó?


-Trước thắng lợi như chẻ tre của quân ta khắp các chiến trường, cũng như nắm được tình hình suy yếu cả tài lẫn lực của đối phương, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã họp thông qua kế hoạch giải phóng Sài Gòn ngày 24 tháng 4 năm 1975. Từ ngày 21 đến 25 tháng 4, các cánh quân, các đơn vị đã đến Sở Chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ, mục tiêu. Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm các anh: Tư lệnh Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, các Phó tư lệnh: Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh và Đinh Đức Thiện. Tôi nhận nhiệm vụ chỉ huy lực lượng vòng trong. Anh Nguyễn Văn Linh phụ trách phong trào vận động quần chúng nổi dậy. Anh Võ Văn Kiệt làm công tác tiếp quản thành phố. Anh Lê Đức Thọ, thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo chung.




-Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng vòng trong do Thiếu tướng phụ trách là gì?


-Nhiệm vụ chủ yếu của các chiến sĩ đặc công và biệt động là đi tiên phong chiếm giữ và bảo vệ an toàn mười sáu cây cầu, mở đường cho các cánh quân; đồng thời “lót ổ” đánh chiếm ba mươi hai cơ sở kho tàng như: kho xăng, kho gạo, nhà máy điện, nước, khu vực lưu trữ hồ sơ của Đặc ủy Trung ương tình báo địch,… ngăn chặn sự phá hoại của địch trước khi chúng hoàn toàn thất thủ.




-Mỗi lần cầm quân ra trận, Thiếu tướng thường suy nghĩ gì, nhất là trận đánh đó có thể gay cho ta nhiều tổn thất?


-Đã ra trận thì phải chấp nhận hy sinh. Không chiến thắng nào không phải trả giá. Nhưng điều quan trọng là làm sao hạn chế tối đa thương vong cho chiến sĩ. Người chỉ huy phải xem sự hy sinh của chiến sĩ cũng là nỗi mất mát của chính mình.




-Với Thiếu tướng, có khi nào gặp phải sự thất bại không?


-Sao lại không! Tôi không bao giờ tán thành chuyện “trăm trận trăm thắng” cả. Bởi có thất bại mới có thành công. Và không ít lần chính tôi phải ôm đầu máu, cõng thương binh rút lui về.




-Xin cảm ơn sự thẳng thắng của Thiếu tướng.


-Trên chiến trường, chẳng có con đường nào dọn sẵn cho anh đâu!




-Về trường hợp của tướng Dương Văn Minh, trong sự nghiệp chính trị của mình, ông ta đã  hài lần lên đến đỉnh cao quyền lực. Lần thứ nhất, đứng đầu Hội đồng Quân nhân, lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, lên làm quốc trưởng. Lần thứ hai, thay Trần Văn Hương làm tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa. Có ý kiến cho rằng, cả hai lần nắm quyền ở Sài Gòn, tướng Dương Văn Minh đề làm lợi cho cách mạng: phá ấp chiến lược và đầu hàng vô điều kiện để tránh cho thành phố khỏi đổ nát. Thiếu tướng nghĩ sao?


-Trước khi đầu hàng vô điều kiện, Dương Văn Minh có thông qua tổ điệp báo của ta liên lạc với trại David-Tân Sơn Nhất, đề nghị thành lập chính phủ ba thành phần. Tôi thừa lệnh anh Phạm Hùng, thảo liên tục mấy công văn trả lời dứt khoát rằng: chỉ có đầu hàng vô điều kiện mà thôi! Theo tôi, nếu ông Dương Văn Minh đầu hàng vào tối 28 sáng 29 tháng 4 năm 1975 để tránh cho Sài Gòn khỏi bị tàn phá, thì có thể đó là hành động đáng ghi nhớ. Nhưng, đằng này ông ta đầu hàng khi đại quân chỉ một guờ sau đã tiến chiếm đến dinh Độc Lập rồi.
-Thưa Thiếu tướng, kỷ niệm nào đáng nhớ của riêng bản thân Thiếu tướng ngày đầu tiên đặt chân vào trung tâm Sài Gòn giải phóng?

-Niềm xúc động, hân hoan của hàng triệu đồng bào chiến sĩ sau cuộc chiến kéo dài hai mươi năm. Riêng bản thân tôi, nhiệm vụ cho Tổ quốc đã hoàn thành. Đêm 30 tháng 4 năm 1975, vào khoảng gần một giờ khuya, trước sự có mặt đông đủ của nhiều đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng và các tướng lĩnh tham gia chiến dịch, anh Phạm Hùng đã nói: “Bây giờ thắng lợi rồi, anh Trần Văn Trà đã hoàn thành nhiệm vụ. Với sự có mặt của các đồng chí tham gia chỉ huy chiến dịch, tất cả đều nhất trí thăng anh Trần Văn Trà hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ phó chủ tịch Ủy ban Quân quản về an ninh và quốc phòng, kiêm tư lệnh Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố”. Một vinh dự mà tôi không hề nghĩ đến!


-Về mạng lưới tình báo A22 của Vũ Ngọc Nhạ-Huỳnh Văn Trọng trước đó, Thiếu tướng có nắm được gì?

-Khi tôi có mặt ở miền Nam thì tám mươi phần trăm mạng lưới tình báo này đã bị địch phát hiện và truy bắt. Một điều mà tôi lấy làm tiếc là về nhân vật Huỳnh Văn Trọng. Tôi muốn nói về cách đối xử không được thỏa đáng của ta đối với công lao của ông. Huỳnh Văn Trọng là một nhân sĩ trí thức yêu nước.


-Với kinh nghiệm dày dạn của một nhà tình báo lão thành, theo Thiếu tướng đâu là thế mạnh cơ bản và quyết định sự thành công của ngành tình báo Việt Nam?

-Lòng yêu nước. Chiến sĩ tình báo của ta không nhận được nhiều đôla như nhân viên CIA hay điệp viên các quốc gia khác. Mà sự hy sinh lại hết sức thầm lặng và lớn lao để góp phần tạo nên những chiến thắng. Biết bao chiến sĩ tình báo vô danh đã mãi mãi ngã xuống trong lòng địch. Đôi lúc, họ còn phải gánh chịu những nỗi đau không gì bù đắp nổi (trầm tư hồi lâu). Có người vì mất liên lạc với chỉ huy, đồng đội song vẫn lặng lẽ hoạt động với tinh thần tự giác, xả thân, nhưng lại cả đời phải chịu đựng nhiều thương tổn! Là một chiến sĩ tình báo, tôi hiểu hơn ai hết nỗi đau ấy. Tôi cũng tự hào trong hàng ngũ đã có những chiến sĩ lập công lớn được Nhà nước phong tặng anh hùng như các anh Tư Bốn, Bảy Vĩnh, Hai Trung, chị Ba, chị Tư Trầu, chị Sáu Biết…


-Nhiều người đã từng nói và trên đây Thiếu tướng cũng nhắc lại rằng, cuộc chiến tranh của chúng ta là chiến tranh nhân dân, mọi thành bại do nhân dân quyết định. Vậy vai trò nhân dân ở đây cụ thể hóa thế nào, thưa Thiếu tướng?

-À, tôi xin đơn cử một số thí dụ thế này. Hồi đánh Pháo, cánh quân báo hay đi về một làng ở Bửu Long, nay là điểm du kích thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày nọ, địch phát hiện, liền đem lính phục kích trên cánh đồng. Biết khi trời tối chúng tôi sẽ về, một bác nông dân là cơ sở cách mạng, xách đèn dầu giả bộ đi soi ếch. Bác đi vào ổ phục kích, đạp lên đầu bọn lính Pháp đang nằm dưới ruộng. Chúng đứng dậy xí xô xí xà chửi bới om sòm. Thế là đằng xa, chúng tôi… thoát êm! Hay lần nọ ở Biên Hòa, chúng tôi sắp bị địch bao vây mà không biết. Một bà bán hàng biết lính đến, bảo đứa con mình giả bộ chạy trước, bà cầm roi chạy sau quất rượt về phía chúng tôi đang trú quân. Chạy ngang qua, bà bảo các chú đi nhanh đi chớ bọn hiến binh, biệt kích sắp bao vây thành phố rồi…


Rất nhiều chuyện như thế. Thử hỏi nếu không dựa vào sự che chở, nuôi nấng, tiền bạc của nhân dân thì làm sao đánh địch được? Trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, cũng nhờ sự che chở, giúp đỡ, tiếp tế, tải thương của nhân dân mà nhiều chiến sĩ, đơn vị mới thoát được vòng vây của địch, trở về chiến khu.


-Vốn là một nhà tình báo quân sự, vì sao Thiếu tướng được đề bạt làm thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm trưởng Ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An? Khi nhận nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ này, Thiếu tướng có e ngại?

-Như tôi đã nói, tôi là người vốn rất thích ngành xây dựng. Sau giải phóng, tôi làm tư lệnh Quân khu 7 kiêm tư lệnh các lực lượng võ trang Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi ra Bắc học ở Học viện Chính trị cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Một lần, Tổng bí thư Lê Duẩn đến thăm, có nói đại ý: Chúng ta thắng lợi, giành được độc lập là sướng rồi. Nhưng có độc lập mà nước còn nghèo, dân còn đói thì chúng ta cũng chẳng sướng ích gì…


Lời của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã đem lại cho tôi nhiều suy nghĩ. Sau khi tốt nghiệp, tôi về Thành phố Hồ Chí Minh xin chuyển sang công tác xây dựng kinh tế, làm phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Trước tình hình thiếu điện trầm trọng, mà muốn công nghiệp hóa thì điện lực phải đi trước một bước, nên tôi đề ra phương án xây dựng công trình thủy điện Trị An, được toàn Hội nghị Thành ủy lần thứ 4 khóa III nhất trí. Anh Võ Văn Kiệt thay mặt cho nhân dân miền Nam đề nghị với Trung ương cho xây dựng thủy điện Trị An, với phương châm “Nhân dân-Nhà nước cùng làm”. Sau một thời gian nghiên cứu với sự tham vấn của các chuyên gia trong và ngoài nước, tôi cùng nhiều đồng chí cách mạng lão thành đã lặn lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người sức của trong nhân dân. Đồng thời, tranh thủ sự viện trợ quốc tế của các nước anh em, nhất là Liên Xô.


-Bây giờ mỗi lần trở lại Trị An, điều gì thường gợi lên trong lòng Thiếu tướng trước tiên…

-Tôi không bao giờ quên những hình xảnh xúc động như: một ca sĩ nổi tiến trước khi mất đã viết di chúc hiến lại một nửa gia sản cho công trình thủy điện Trị An. Một em bé đã đập con heo đất. Một ông già mù ở Bắc Mỹ Thuận khi hay tin đoàn vận động cho Trị An đi qua, đã vét túi mình được 10 đồng, liền đem 5 đồng đến góp vào thùng. Và biết bao hình ảnh đáng nhớ khác nữa vì dòng điện, vì tương lai đất nước. Gần một trăm công nhân đã ngã xuống ở Trị An vì sốt rét ác tính. Sự tự di dời của hàng trăm hộ dân không chút phiền hà. Tấm lòng cao cả, nhiệt thành của các chuyên gia Liên Xô…
-Thời ở B2, Thiếu tướng sống gần gũi với ai nhiều nhất?

-Nguyễn Chí Thanh và Phạm Hùng. Hai anh rất quí tôi và tôi cũng hết sức thương yêu các anh.


-Thiếu tướng còn nhớ gì về hình ảnh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

-Một nhà lãnh đạo, một vị tướng tài ba và giản dị, khiêm tốn, có sức thuyết phục lớn. Anh rất được Bác Hồ và Trung ương tin cẩn khi giao trọng trách vào lãnh đạo cuộc chiến đấu chống Mỹ ở miền Nam.


-Thế còn cố Thủ tướng Phạm Hùng?

-Anh Phạm Hùng cũng là một cán bộ hàng đầu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, từng được giao nhiều trọng trách trong Đảng, chính phủ và quân đội, đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng dân tộc. Anh là nhà lãnh dạo có tầm nhìn xa về chiến lược, là một con người thẳng thắn, khẳng khái, đầy bản lĩnh, được truyền tụng qua nhiều giai thoại. Khianh còn rất trẻ, bị địch bắt giam ở Mỹ Tho. Anh bị thực dân Pháp kết án tử hình hai lần. Nghe nói khi tòa xử kết án tử hình anh lần thứ hai, anh dõng dạc nói thẳng vào mặt bọn quan tòa rằng: Mỗi người chỉ có một cái đầu, lần trước các ông đã xử tôi tử hình rồi, còn đầu nào nữa mà lại đòi chém! Chẳng lẽ còn cái đầu “con c” cũng muốn chém luôn sao?


Nhờ phong trào đấu tranh của quần chúng và Hội Hồng thập tự Pháp vận động chống án tử hình cho anh, nên anh được giảm xuống án chung thân khổ sai đày đi Côn Đảo. Ở trong tù, Phạm Hùng luôn là tấm gương đấu tranh kiên cường, là ngọn cờ đầu đối mặt với chế độ khắc nghiệt lao tù. Thời chống Mỹ, được làm việc bên anh, tôi học được rất nhiều điều từ con người anh hùng ấy. Anh hay bảo, trong công việc phải sáng tạo, không được phụ thuộc hoàn toàn người khác.Có lần, anh còn bảo: “Không được nghe lời vợ”. Tôi nói vui: ”Làm gì có vợ ở đây mà nghe lời!”. Anh cười: “Độc lập rồi hẳn biết”. Mà đúng thật. Hòa bình rồi, tôi thấy thiên hạ thường đi cửa sau, bằng cách đút tiền của lo lót thông qua các bà vợ…


Anh Phạm Hùng đã ra đi nhưng tên tuổi anh gắn liền với những chiến công đánh Mỹ, với xây dựng đất nước  như công trình thủy điện Trị An, vẫn sống mãi trong ký ức nhân dân, nhất là nhân dân phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh.


-Thưa Thiếu tướng, từ tướng tình báo đến tướng kinh tế, đóng góp nhiều công lao cho đất nước, vậy còn với gia đình…

-Như các anh em khác, gia đình thì phần lớn nhờ vào bà nhà. Bà ấy nguyên là cán bộ binh vận. Chúng tôi gặp nhau trong chiến khu từ năm 1946, thương yêu nhau, quyết định báo với cơ quan hai bên đi đến thành hôn. Vừa là đồng chí, vừa là vợ chồng, chúng tôi giúp đỡ nhau đi suốt hai cuộc kháng chiến lẫn thời bình. Bốn đứa con chúng tôi, hai trai, hai gái đều đã trưởng thành và đều là quân nhân.


-Lúc Thiếu tướng ở chiến khu, bà nhà sống tại đâu?

-Ở quê nhà Hóc Môn. Khi tôi vào làm việc ở trại David-Tân Sơn Nhất, sau thời gian điều tra gắt gao, địch phát hiện lai lịch tôi và gia đình. Biết mình đã bị lộ, tồi liền bí mật điện gấp cho bà ấy nhanh chóng đưa gia đình vào chiến khu. Và đúng như dự đoán, gia đình tôi chuyển đi đêm trước thì sáng hôm sau mật vụ ập đến nhà…


-Thời trẻ, Thiếu tướng “phong độ” như vậy, ngoài bà nhà ra, hỏi nhỏ Thiếu tướng, có cô gái nào “chết” vì Thiếu tướng không?

-(Cười). Sao lại không? Thời tôi ra Bắc học tập, nhiều cô gái Hà Nội rất xinh đẹp là em gái các bạn đồng đội, có cảm tình với tôi. Nhưng tôi không dám bước tới, vì nhiệm vụ rất nặng nề và đặc biệt là tôi sắp về Nam chiến đấu.


-Xin cảm ơn Thiếu tướng đã dành cho buổi trò chuyện cở mờ và thân tình.

-Nói chuyện về quá khứ để hướng đến tương lai là điều tốt. Qua đây, cho tôi gởi lời chào thân ái đến đồng bào, đồng chí, nhất là các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động Sài Gòn nhân ngày 30 tháng Tư lịch sử.


Trước khi chia tay, tướng Trần Văn Danh đưa tôi đi xem một số kỷ vật trong căn phòng lưu niệm đầy tự hào của ông ở cư xá Bắc Hải. Từ những khẩu súng sáng choang như còn phảng phất mùi chinh chiến đến bức tranh toàn cảnh Nhà máy thủy điện Trị An. Từ các tượng danh nhân đến những tấm huân chương công trạng… Tất cả được bao bọc cẩn thận, đặt thật trang trọng. Vị tướng già hóa thành người thuyết minh rất có duyên đối với các “bảo vật” của mình.Tân Bình, tháng 4 năm 1997

Người chỉ Huy trận đánh núi Bà Đen>> Ba Tôi


  1.     NGƯỜI CHỈ HUY TRẬN ĐÁNH CHIẾM NÚI BÀ ĐEN NĂM 1975
     
     Trước những thắng lợi liên tiếp của quân và dân Miền Nam trong năm 1974,đặc biệt là trên chiến trường Tây Ninh.Ngụy quyền Sài Gòn  phán đoán  ,Tân Ninh là địa bàn trọng điểm,”Việt Cộng”sẽ đánh chiếm Tây Ninh để xây dựng thủ đô của chính phủ lâm thời cộng hòa  Miền Nam ,Việt Nam.Vì Vậy ,chúng đã ném toàn bộ sư đoàn 25,Lữ đoàn biệt kích 81,Thiết đoàn kỵ,binh cố 3,Sư Đoàn 18…vào  chiến trường Tây Ninh để đối phó với ta.
        Xác định đỉnh núi bà Đen là vị trí chiến lược quan trọng của địch ta đưa đơn vị đặc nhiệm Miền Phối hợp cùng lực lượng vũ trang huyện Tòa Thánh ( Nay là huyện Hòa Thành).Tấn công tiêu diệt quân sự này. Đêm mùng 6/1/1975 các mũi tấn công của quân ta đồng loạt nổ súng .Sau vài giờ chiến đấu quyết liệt,ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa. Cờ mặt trận Giải Phóng được cấm trên đỉnh núi Bà Đen vào rạng sang 7/1/75.Từ điểm cao gần 1000 mét này ,các đơn vị pháo binh quân giải phóng đã khống chế toàn bộ khu vực Thị Xã ,Chi Khu Phú Khương và Căn Cứ Trảng Lớn…của địch.
         Mất điểm cao lợi hại này đã đẩy quân ngụy ở Tây Ninh vào thế bị động phòng ngự.Đích thân tướng Cao Văn Viên,Tổng tham mưu trưởng ngụy đã bay lên Tây Ninh .Thị sát mặt trận và bàn kế hoạch tái chiếm núi ,nhưng mọi cố gắng của chúng đều không mang lại kết quả.
         Sau chiến thắng Phước Long và chiến thắng núi Bà Đen,khi chuẩn bị bước vào cuộc  tổng tấn công và nổi  dậy mùa xuân năm 1975,trên chiến trường miền Đông đã xuất hiện giai thoại “Ba ông giải phóng hai bà”.Nói về vị trí chiến lược của đỉnh núi Bà Đen và ý nghĩa của giai thoại này,Thiếu tướng Trần Văn Danh đã kể “Ba ông là Năm Thạch tức Hoàng Cầm,Năm Ngà tức Nguyễn Minh Châu( Năm Ngà) và Ba Trần là tôi.Còn hai bà là Bà Đen và Bà Rá”.Tôi là người trực tiếp chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ở Tây Ninh,một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế , thu tin mã thám và là điểm chỉ đường cho B 52 cùng các loại máy bay hiện đại của địch oanh kích vùng giải phóng .Đồng thời lực lượng do tôi chỉ huy còn thu hút hỏa lực đối phương là Lữ đoàn 81 biệt kích dù,và hai phần ba phi cơ chiến đấu F5E vùng III chiến thuật,kiềm chế sư đoàn 25 bộ binh ,phối hợp cùng cánh quân của Năm Ngà đang đánh Tánh Linh,Võ Đắc với sư đoàn 18  của địch . Ngăn Chặn không cho các lực lượng đối phương yểm trợ  Phước Long trận đia của Quân đoàn 4 do anh Hoàng Cầm chỉ huy”.
           Như vậy thiếu tướng Trần Văn Danh ( tức Ba Trần) là vị chỉ huy trực tiếp trận đánh .Chiếm núi Bà Đen năm 1975.Ông là người con của quê hương Mười tám thôn vườn trầu –Hốc Môn ,ông sinh năm 1923,từ một học sinh trường Bá Nghệ Sài Gòn( nay là trường kỹ thuật Cao Thắng) , mê nghề xây dựng .Ngoài giờ học tập ông còn lãnh thêm mẫu mã từ văn phòng  kiến trúc sư về vẽ để kiếm sống ,trong đó có hàng của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát.Ông trở thành một chiến sĩ quân tình báo quả cảm của Miền Đông,và là người đứng đầu nghành quân báo Miền Nam thời chống Mỹ.trong kháng chiến ,ông lần lượt được giao các nhiệm vụ :Tham mưu phó phụ trách tình báo,đặc công của Bộ tư lệnh quân giải phóng Miền Nam ,Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự bốn bên của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.Trong chiến dịch Hồ Chí Minh  năm 1975, ông chỉ huy lực lượng đặc công  và biệt động  Sài Gòn, vừa làm nhiệm vụ
     mở đường cho các cánh quân  giải phóng , vừa hạn chế  nguy cơ đổ nát của thành phố khi đại quân tiến vào.
    Sau ngày miền nam giải phóng,ông từng giữ chức vụ : Phó tư lệnh Quân khu 7, kiêm  Tư lệnh các lực lượng vũ trang Thành Phố Hồ Chí Minh ,Phó Chủ Tịch UBND Thành Phố Hồ Chí Minh,Thứ trưởng bộ năng lượng kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An.
    Từ tướng tình báo ,được một nhân vật cao cấp của CIA ở Sài Gòn trước năm 1975 gọi là “ một trong bốn nhà tình báo quan trọng hàng đầu của Việt Cộng “( Trong cuốn : Khoảng cách và thời gian vừa phải ,xuất bản ờ New York năm 1977),ông trở thành tướng kinh tế .Trên lĩnh vực nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình ,và được nhà nước phong tặng anh hùng lao động vào năm 1990,thưởng Huân Chương Độc Lập hạng nhất .
    Nhân kỹ niệm 25 năm ,ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng ,nhắc lại đôi điều về vị tướng tình báo chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ,để tuổi trẻ hôm nay thêm tự hào về tài trí Việt Nam.

    0 

    Add a comment

H67 cum Tinh Bao >. do ba tôi giao Nhiem Vu

Tháng 7/1967, Cụm trưởng Bảy Vĩnh nhận lệnh về “R” gấp trực tiếp nhận chỉ thị của cấp trên. Để đảm bảo yêu cầu tuyệt mật không thể truyền đạt qua điện đài, ông đi theo đường giao liên đặc biệt của J22. Khoảng gần một tuần sau đã trở về đơn vị. Ông triệu tập cuộc họp bao gồm cán bộ chủ chốt và cấp ủy Đảng, phổ biến tóm tắt tình hình chiến sự. Nội dung cuối, ông phân công Cụm phó Võ Trung Tuyến thay ông lãnh đạo đơn vị: củng cố hầm hào, công sự chiến đấu, để phòng âm mưu của địch. Ông nói, tình hình chiến trường sôi động lắm, sắp tới tôi phải xa các đồng chí một thời gian. Anh em ngỡ ngàng hỏi: “Anh lại về Đoàn?”. Ông khẽ cười: “Không! Sẽ vi hành một số nơi”. Anh em phán đoán, chắc anh lại đột nhập vô thành.

Đối với Cụm trưởng Bảy Vĩnh, từ khi căn cứ bám trụ còn ở “mật khu” Bời Lời, cũng như sau này chuyển về Châu Thành – Bến Tre, ông đã có nhiều chuyến công tác đột xuất vào vùng địch. Có lẽ chính vì thế mà ông ít xuất hiện công khai trước những cuộc họp “liên cơ” có nhiều người tham dự. Việc đó, kể cả chỉ đạo hàng ngày ở căn cứ, ông cũng giao cho Võ Trung Tuyến đảm nhiệm. Riêng việc phối hợp với địa phương làm công tác dân vận, địch vận, tuyên truyền… ông phó thác cho tôi. Để giải tỏa sự ngỡ ngàng của anh em, ông cho biết chuyến về Đoàn vừa rồi là để nhận chỉ thị trực tiếp của ông Ba Trần (tướng Trần Văn Danh), đột nhập vô thành để thực hiện một số yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách.
Cuộc tiếp kiến tướng Trần Văn Danh hôm trước, Cụm trưởng Lê Văn Vĩnh được giao nhiệm vụ: Trực tiếp điều nghiên một số mục tiêu tại thị xã Phước Long. Xác định bố phòng binh lực ở Tiểu khu Phước Long (mô hình tổ chức của ngụy quyền miền Nam thời đó, cấp tỉnh gọi là Tiểu khu, cấp huyện gọi là chi khu), Chi khu Phước Bình, Ty cảnh sát, các trận địa pháo, sơ đồ khu vực sân bay, người tháp tùng, trợ thủ, tạo bình phong cho chuyến đi của ông là một điệâp viên “thượng hạng” ở Sài Gòn. Có mật danh là “H3” , bí danh “Ba Nghĩa” (cũng có thời gian, trong một số báo cáo tôi thấy ghi là “H9”, bí danh “ Chín Nghĩa”). Mãi sau này tôi mới biết, “H3”, “Chín Nghĩa”, “Ba Nghĩa” là ông Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ). Đắc cử dân biểu hạ nghị viện Sài Gòn, khóa 1967–1972. Ở một vị trí có thế lực trong một ủy ban quan trọng thuộc Hạ viện.

Hạnh phúc được sống lại cùng ký ức( Ba Tôi


Hạnh phúc được sống lại cùng ký ức
Đoàn người về thăm chiến trường Bà Đen

TT - Tặng thưởng của UBND TP.HCM  (trong khuôn khổ của “Giải thưởng VHNT TP.HCM”, giải thưởng hai năm một lần) trao cho phim tài liệu Người từ hai cuộc chiến bước ra (ngoài ra còn có phim truyện Mùa len trâu).
Bài viết dưới đây đề cập đến phim tài liệu (xin viết tắt NTHCC).
Chuyện của một con người - thiếu tướng Trần Văn Danh (Ba Trần) - nhưng lại gồm cả toàn cảnh đất nước VN qua những chặng đường lịch sử. Giai điệu nhạc mở đầu Một đời người một rừng cây ngầm báo hiệu cách nhìn sẽ chi phối toàn bộ phim NTHCC, đồng thời là thông điệp về sự gắn bó qua lại giữa cá nhân với lịch sử.

Con người ấy bước ra từ hai cuộc chiến, thoạt nghe dễ nghĩ lần lượt cuộc chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, kỳ thực lại khái quát rộng hơn cho hai chặng đường - “tướng trong thời chiến” và “tướng trong thời bình xây dựng”.

Cố thiếu tướng Ba Trần
Tướng Ba Trần mang theo cuộc đời mình nguyên vẹn khí phách của quê hương mười tám thôn vườn trầu Hóc Môn. Thời kháng chiến chín năm ở chiến khu D, một địa danh đem lại nỗi khiếp sợ cho đối phương đến mức thành câu vè “Chiến khu D đi dễ khó về. Lính vô mất mạng, quan về mất lon”. Sau đó, giai đoạn kháng chiến giành thống nhất trên 20 năm, tướng Ba Trần đảm nhiệm vai trò tham mưu phó Miền, phụ trách tình báo, đặc công, biệt động. Đến thời bình, sự kiện nổi bật là việc tướng Ba Trần được giao làm trưởng ban chỉ đạo công trình xây dựng thủy điện Trị An...
Đó là vắn tắt “đường dây” sự nghiệp của tướng Ba Trần được thể hiện trên phim. Cũng thoạt tưởng một phim chân dung mang tính chất kê khai lý lịch đơn điệu. Nhưng sâu xa hơn thế, NTHCC đem lại những thước phim rất giàu cảm xúc. Bộ phim đan cài nhiều đoạn phim tư liệu với phát biểu của những nhân chứng trong cuộc, tạo nên âm hưởng khách quan khi vẽ nên chân dung một tướng lĩnh đồng hành trong lòng dân tộc.
Vẻ đẹp ấy rõ nét nhất trong hai phân đoạn phim. Một, một phái đoàn gồm những người trong cuộc trở lại thăm chiến trường xưa nơi núi Bà Đen. Trên 30 năm trước, vào tháng 12-1974, tướng Ba Trần chỉ huy cuộc chiến kéo dài 31 ngày đêm đánh bật đối phương ra khỏi cứ điểm trên đỉnh núi, tạo nên lợi thế cực kỳ to lớn trong sự phát triển chiến lược vào xuân 1975. Hai, cũng là một cuộc trở lại, về lại lòng hồ Trị An, với đoàn người trong cuộc để bồi hồi nhớ lại thời điểm ngày 1-12-1987 tổ máy số 1 chính thức phát điện, Nhà máy thủy điện Trị An có công suất gấp mấy lần so với thủy điện Đa Nhim, chấm dứt cảnh điện năng miền Nam rơi vào ảm đạm chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu.
Vị tướng lĩnh cầm trịch Ba Trần không có mặt trong cả hai cuộc trở lại thăm chiến trường “thời chiến” lẫn “thời bình” kể trên vì ông đã hóa người thiên cổ. Nhưng ông vẫn sống trong tâm khảm đồng đội. Quá khứ không được phép rơi vào quên lãng, đó là mệnh lệnh từ trái tim.
Bộ phim NTHCC kéo dài sáu tháng mới hoàn thành (khoảng tháng 11-2004), êkip làm phim phải lặn lội đi tìm và gặp gỡ nhiều nhân chứng trong Nam ngoài Bắc.
“Trong khi đi tìm tư liệu cho bộ phim chân dung, tôi đã phát hiện những người từng góp sức cưu mang một số cán bộ cao cấp, tướng lĩnh của ta. Bộ phim này đã một lần phát trên Đài truyền hình TP.HCM và một số đài tỉnh khác, sau đó nhiều người trong cuộc, có tên tuổi hoặc không, bày tỏ sự cảm ơn. Đúng ra là tôi phải cảm ơn họ. Với người làm phim tài liệu như chúng tôi, nhận được những động viên như thế, đó là hạnh phúc lớn nhất không gì so sánh nổi”, đạo diễn Mai Bằng cho biết.        
Đạo diễn Mai Bằng
Cùng khóa đào tạo với Nguyễn Vinh Sơn, Hồ Ngọc Xum... nhưng Mai Bằng lại chọn phim tài liệu. “Tôi cho là phim tài liệu có ưu thế hơn trong nắm bắt những gì cuộc sống đang yêu cầu. Có lẽ một phần tôi chịu ảnh hưởng quan niệm từ cha tôi (đạo diễn Mai Lộc).


Và tôi đặc biệt yêu thích tư tưởng và phong cách của anh Trần Văn Thủy trong phim Chuyện tử tế, Một cõi tâm linh”.
Mảnh đất cho phim tài liệu hiện nay cũng không mấy rộng rãi, chỉ nhúm người dám gắn cả đời mình cho phim tài liệu, trong đó có Mai Bằng. Có ai lại đi trả giá cho tình yêu của mình bao giờ? Hạnh phúc vẫn có, Mai Bằng khẳng định một lần nữa, như lần này - với phim Người từ hai cuộc chiến bước ra.

ANH THƯ

Tôi đi làm tình báo( Ba Tôi)

Hồi còn trai tráng, đến nhà sách nhân dân thấy cuốn sách có tựa: "Tôi đi làm tình báo"
Thấy cũng ngộ ngộ vì vừa đi làm tình vừa đi làm báo thì còn gì hay bằng. Mua về đọc mới biết rằng nhân vật chính trong sách đi làm tình báo thời đế cuốc mẽo xâm lăng. Từ ấy trong anh bừng nắng lạ, khoái chuyện tình báo tây lẫn ta. Giờ góp vào đây vài chuyện về mấy ông tướng anh hùng tình báo của quê ta vạn tuế.  
Chuyện 1: Ông Ba Trần & giai thoại 3 ông giải phóng 2 bà. 


Thiếu tướng Trần Văn Danh, tên thật là Trần Văn Bá (tức Ba Trần) sinh năm 1923, quê ở Hóc Môn, Sài gòn. Đang học trường Bá Nghệ (bây giờ là trường Kỹ thuật Cao Thắng) thì cách mạng tháng 8 diễn ra. Anh Bá xếp bút nghiên gia nhập đội trinh sát khu 7 với bí danh Ba Trần. Đến năm 1949 được thăng chức tham mưu phó tỉnh Thủ _ Biên kiêm trưởng ban quân báo tỉnh. Tập kết ra bắc được phong cấp thiếu tá và đi học trường An ninh. Năm 1960, ông vào nam lãnh chức Trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền

Trong cương vị này, Ba Trần bắt tay xây dựng lại ngành tình báo cách mạng bằng cách tuyển chọn cán bộ từ ban địch tình (của xứ uỷ Nam bộ trước đồng khởi). Vì sau bảy năm từ khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với chính sách tố Cộng vô cùng dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giết, bỏ tù hàng loạt cán bộ làm cho lực lượng tình báo cách mạng gần như tan rã, tê liệt hoàn toàn. Mưu trí hơn, Ba Trần cho tổ chức điều nghiên và lợi dụng sự sơ hở của địch do mâu thuẫn nội bộ để giải cứu các cán bộ tình báo đang bị giam cầm rồi bố trí hoạt động trở lại, vụ giải thoát ông Mười Hương là thành công lớn nhất. Sau đó, Ba Trần đã từng bước “cài” được các chiến sĩ tình báo vào các cơ quan đầu não của đối phương như: dinh Độc Lập, Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, cơ quan đặc ủy trung ương tình báo, bộ tư lệnh hải quân của Sài gòn, bộ tư lệnh Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ... Qua đó, Ban tình báo chiến lược đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của địch kịp thời cung cấp, phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của R & Hà nội. Suốt thời gian đánh Huê kỳ Ba Trần kiêm nhiệm nhiều chức vụ, nhưng lúc nào cũng là Trưởng ban tình báo chiến lược B2. Có lúc Ba Trần được đề bạt làm Phó tham mưu trưởng Ban Quân sự Miền, nhưng ông vẫn phải trực tiếp phụ trách tình báo, đặc công, biệt động. 


Ngay vào lúc gần 1 giờ khuya đêm 30 tháng 4 năm 1975, giữa Sài Gòn vừa được giải phóng, trước sự có mặt của Thượng Tướng Trần Văn Trà – Tư lệnh Miền, ông Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục đã trịnh trọng tuyên bố:

- Bây giờ thắng lợi rồi, anh Trần Văn Danh đã hoàn thành nhiệm vụ. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi công bố : thăng đồng chí Trần Văn Danh hàm thiếu tướng, nhận nhiệm vụ Phó chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố về an ninh và quốc phòng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia Định (1).

Sau năm 1975, ông thôi chức Tư lệnh lực lượng vũ trang TPHCM, Phó chủ tịch TPHCM & đã đề ra phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An và được chấp nhận. Sau đó, Trần Văn Danh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình Thủy điện Trị An. 

lượm lặt từ sách đọc chơi cho vui: 

3 ông giải phóng 2 bà 




Không phải chỉ lừng danh trong hoạt động chỉ huy tình báo, Ba Trần còn là người trực tiếp chỉ huy trận mạc rất kiên cường, táo bạo. Trong chiến dịch Phước Long chuẩn bị mở màn cuộc Tổng tiến công mùa xuân đại thắng 1975 đã xuất hiện một giai thoại khá thú vị là: “Ba ông giải phóng hai bà”. Trong chiến dịch này Ba Trần được giao trực tiếp chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là đài không lưu thông báo cho B52 cùng các loại chiến đấu cơ của địch bay đi oanh tạc ở miền Bắc và hai nước Cam-pu-chia, Lào trên bán đảo Đông Dương; cùng lúc thực hiện nhiệm vụ thứ hai là thu hút hỏa lực của lữ đoàn 81 biệt kích dù, các phi đội chiến đấu F5E của quân đoàn 3 ở Biên Hòa, sư đoàn 25 bộ binh ngụy... 

Trước khi bước vào đợt hai mùa khô năm 1975 theo nhận định chung của Bộ tổng tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi. Cái đau nhất của Mỹ, ngụy là công việc bình định, mà chúng đã bỏ ra công sức và tiền của, đến lúc ấy đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất lại là ở đồng bằng sông Cửu Long nơi đông dân và giàu có mà chúng mong làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hành quân tái chiếm và giải tỏa trong tháng Giêng ở biên giới Kiếân Tường - Chợ Gạo - Mỹ Tho, Thầy Phó - Trà Vinh, Thới Bình - Cà Mau, khu vực Rạch Giá đi Hà Tiên mà không có kết quả, còn bị thiệt hại. Ở đồng bằng địch phải chuyển qua chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào trước dịp Tết âm lịch (khoảng 10 tháng 2). Ở miền Đông Nam Bộ chúng định tập trung quân cố đánh chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “Chiến dịch 271” nhưng không thành vì bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực lượng đủ sức. Trước tình thế ấy, chúng xoay sang với nỗ lực rất cao để chiếm lại núi Bà Đen - một vị trí thiết yếu, không những phục vụ cho việc phòng thủ miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn mà còn để bảo vệ cho Cam-pu-chia – Phnôm-pênh của chính quyền ngụy Lon-non nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Giêng, quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của bộ tổng tham mưu tham dự đã sử dụng lực lượng của tiểu khu Tây Ninh và sư đoàn 25 với sự yểm trợ cao của pháo binh (bình quân bắn trên 6.000 quả/ngày) và phi cơ (84 lần chiếc/ngày), đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29 trực thăng đổ quân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng đều bị ta đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều phi cơ và trực thăng. Không những thế, qua theo dõi tin tình báo và lực lượng trinh sát mặt đất nắm được: để chuẩn bị đánh chiếm núi Bà Đen, Mỹ-ngụy còn tập kết một số máy bay trực thăng cùng với xung lực ở Bản Kéo cách đó không xa để chở quân đổ bộ. Chớp thời cơ, đêm 25 tháng Giêng năm 1975 (nghĩa là trước chưa tới một ngày địch khởi sự), Trần Văn Danh đã kịp thời chỉ đạo tập trung hai khẩu pháo 105 ly và sáu khẩu cối 61ly. Vào lúc 03 giờ sáng dồn dập nã đạn vào bãi để máy bay của đối phương. Bị giáng trả bất ngờ, địch không kịp trở tay đối phó. Phần lớn máy bay bị phá hủy và nhiều quân lính bị đền tội. Qua hai đợt tấn công cả phía sau và phía trước của ta, kết cục địch đành nhận thất bại cay đắng, lui về phòng thủ Tây Ninh.

Thượng tướng Trần Văn Trà (Tư Chi) Tư lệnh Miền đã đánh giá như sau : Thắng lợi rất có ý nghĩa của mặt trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. Đó là tiểu đoàn trinh sát 47 trực thuộc Bộ Tham mưu Miền, được tăng cường hai đại đội đặc công của Trung đoàn 429, một đơn vị súng máy cao xạ và một đơn vị cối, tất cả chỉ vỏn vẹn 300 cán bộ và chiến sĩ. Hiểu rõ vị trí của trận đánh, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ định đồng chí Ba Trần, Tham mưu phó Miền trực tiếp chỉ huy, các đồng chí Huỳnh Ninh và Chín Lộc, trưởng và chính trị viên Phòng 2, phải thông qua phương án tác chiến và các đồng chí Huỳnh Ninh, Phó phòng 1, đồng chí Hải trưởng ban trinh sát trực tiếp chỉ huy trận đánh. Đêm 3 tháng 12, đơn vị tấn công từ 3 hướng. Hướng tây nam là mũi chính do đồng chí Tô làm mũi trưởng, đồng chí Thăng làm mũi phó cùng 5 chiến sĩ đã thọc thẳng vào trung tâm cứ điểm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Nhưng quân địch được phi cơ và trực thăng chi viện đã phản kích và giữ được vị trí. Toàn tổ hy sinh anh dũng. Được chỉ đạo của trên, đơn vị chuyển qua bao vây đánh lấn, chặt đứt mọi nguồn tiếp tế, không cho một trực thăng nào đổ bộ được. Quân địch nguy khốn buộc phải rút chạy vào cuối tháng 12 nhưng bị diệt và bị bắt sống gần hết. Vì là một cứ điểm quan trọng, được trang thiết bị hiện đại để quan sát từ xa khắp vùng rộng lớn và chuyển tiếp truyền tin cho cả hai chiến trường Việt Nam và Cam-pu-chia nên cả bộ tổng tham mưu và quân đoàn 3 ngụy quyết tâm chiếm lại cho kỳ được căn cứ núi Bà Đen bằng những trận đánh phá vô cùng ác liệt. Nhưng đơn vị trinh sát đặc công nhỏ của ta đã thắng một lực lượng binh chủng hợp thành của địch, lớn hơn ta gấp cả hàng chục lần. Sự thắng lợi ở đây là của cả thế và lực, của cả sự khôn khéo và trí thông minh, lòng dũng cảm và kỹ năng chiến đấu, của ý chí và quyết tâm, của sự chịu đựng khó khăn, gian khổ và sự hy sinh quên mình vì nghĩa lớn của dân, của nước. Phải chăng trên ý nghĩa này, trận đánh là một hình ảnh thu nhỏ của toàn bộ cuộc chiến tranh giải phóng của ta chống lại đế quốc Mỹ : ít đã thắng nhiều, nhỏ đã thắng lớn, tài trí và nghĩa nhân đã thắng vũ phu và cường bạo, chính đã thắng tà, trận đánh càng có giá trị vì nó diễn ra vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, bịt tai mắt của địch cho ta chuẩn bị tấn công vào sào huyệt của chúng” (1)

Toàn bộ những hoạt động này nhằm phối hợp với cánh quân của đồng chí Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu) đang đánh Tánh Linh – Võ Đắc kềm chế sư đoàn 18 bộ binh ngụy và ngăn chặn không cho các lực lượng của địch yểm trợ Phước Long. Phước Long chính là trận địa của Quân đoàn 4 do đồng chí Năm Thạch (Hoàng Cầm) chỉ huy. Nhờ hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa “ba ông” Hoàng Cầm – Nguyễn Minh Châu – Trần Văn Danh giải phóng nhanh gọn hai cứ điểm “hai bà” là Bà Đen – Bà Rá ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Phước Long có ý nghĩa rất quan trọng là lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh. Đặc biệt chiến thắng Phước Long là cơ sở giúp Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương khẳng định Mỹ không dám đưa quân tham chiến nữa để từ đó có kế hoạch tác chiến giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đứng về phía địch, việc mất tỉnh Phước Long đã trở thành bi kịch. Đại tá Phạm Bá Hoa – tham mưu trưởng tổng cục tiếp vận ngụy đã phải cay đắng cho rằng: cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của quân đội Việt Nam Cộng hòa chỉ mới bị đánh một điểm mà đã không còn lực lượng đối phó, hỏi bị đánh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước Long là sự kiện nói lên khá rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã thực hiện trong sáu năm qua. Trước đây quân đội Việt Nam Cộng hòa qua được nhiều hiểm nghèo là nhờ vào cứu viện của Hoa Kỳ. Họ đã cung cấp đầy đủ mọi trang bị bù đắp tổn thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mạnh mẽ thậm chí cả xung lực mới đủ sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả một tỉnh mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng đã chính thức gửi công hàm, rồi khuyến cáo điện đàm trực tiếp với Smith (Trưởng cơ quan D.A.O) tất cả đều là con số không...


Chuyện ông đại tá việt cộng trong phái đoàn trại David sao mập mạp :

Theo như thỏa thuận, vào ngày 28 tháng 2 năm 1973, máy bay quân sự của Mỹ sẽ đáp xuống sân bay Thiện Ngôn để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sân bay Thiện Ngôn nằm ở phía bắc Tây Ninh vốn là căn cứ quân sự của một chiến đoàn Mỹ vừa chuyển giao cho quân đội Sài Gòn đã bị quân giải phóng đánh chiếm vào năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ.

Đến giờ hẹn, trực thăng Mỹ không tới đón mà thay vào đó là một phi đội chiến đấu của không quân Sài Gòn lượn quanh rồi ném bom hù dọa. Ngay tức khắc người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên tiếng phản đối mạnh mẽ hành động này. Phe ta quyết định chuyển sang một điểm hẹn khác đã chuẩn bị trước và đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho Đoàn đại biểu quân sự Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Điểm hẹn mới là Lộc Ninh, một thị trấn đông dân được mệnh danh là thủ phủ của vùng giải phóng. Ngày 1 tháng 3 năm 1973, ba đợt trực thăng của Mỹ đã đáp xuống sân bay Lộc Ninh để rước đoàn đại biểu ta về Sài Gòn. Trưởng đoàn là trung tướng Trần Văn Trà, các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang, đại tá Đặng Văn Thu (Đoàn Huyện), đại tá Trần Quốc Minh cùng các ủy viên như Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư...

Nhìn chung theo danh sách thông báo cho phía Mỹ về thành phần của phái đoàn ta, thì bộ phận tình báo quân sự Mỹ đều nhận ra hầu hết là... “người quen”, duy chỉ có một người mà chúng hơi ngờ ngợ, đó là đại tá Trần Quốc Minh – Phó trưởng đoàn kiêm Trưởng tiểu ban hai bên. Vì đại tá có dáng người cao to, bề thế này đã gây ra một ấn tượng bất ngờ cho đám quân cảnh Sài Gòn – vốn là những binh lính to, khỏe được chọn để đào tạo thành cảnh sát của quân đội Sài Gòn với nhiệm vụ trấn áp binh lính trốn tránh, đào ngũ hoặc có ý định làm loạn. Thấy phái đoàn đại biểu quân sự của ta hùng hậu, mà vị đại tá, phó đoàn lại phương phi chững chạc, quân cảnh Sài Gòn phải kêu lên:

– Trời ơi ! Việt cộng gì mà to cao mập mạnh và đỏ au như thế này !

Đã quen với đòn tâm lý chiến là Việt cộng ở trong rừng ăn bờ, ngủ bụi lại bị phi cơ Mỹ ném bom Napan, bắn rốc két chết hết rồi, chỉ còn lại vài tên ốm yếu, xanh xao... đến nỗi bảy tên Việt cộng leo lên lá đu đủ cũng không gãy... làm đám quân cảnh ra sân bay để “dàn chào” Việt cộng đều không khỏi bất ngờ, sửng sốt. Chừng sực nhớ ra nhiệm vụ được điều ra phi trường Tân Sơn Nhất là để thị uy và làm khó dễ “phái đoàn Việt cộng”, mấy trự quân cảnh vội xông ra cản đường và la lối, chửi bới. Điều này cũng không nằm ngoài dự kiến của ta, do đó với thái độ hết sức bình tĩnh, đại tá Trần Quốc Minh hích nhẹ trung tá Nguyễn Hữu Trí:

– Đồng chí bước ra hỏi coi bọn này muốn gì ?

Với tướng tá “bặm trợn” và vốn là dân anh chị ở Sài Gòn với danh xưng “đại ca Tư Bốn” trước khi hoạt động bí mật, nên khi Nguyễn Hữu Trí khệnh khạng bước lại trước mặt trự thiếu tá – đại đội trưởng quân cảnh Sài gòn thì hắn hoảng hốt kêu lên:

– Ủa, anh Tư ! Sao anh ở đây ? Bộ anh là Việt... cộng hả ?

Nguyễn Hữu Trí nghiêm giọng:

– Tao là... trung tá tình báo Việt cộng đây !

Thiếu tá chỉ huy quân cảnh tiu nghỉu quay lại phía đám lính:

– Thôi tụi bay để cho anh Tư với mấy ổng đi !



Khu doanh trại David của không quân Mỹ nằm sát góc tây nam sân bay Tân Sơn Nhất được thiết lập thành hình chữ V gồm ba dãy nhà gỗ quây lại thành chữ U. Trong lòng có vài biệt thự với đường tráng nhựa chạy giữa các dãy nhà cùng sân quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền... 

Phía các cơ quan tình báo của Mỹ ở Sài Gòn cũng làm việc hết sức cật lực để xác định cho thật đầy đủ lý lịch của “những vị khách” được mời đến “vùng giải phóng của Việt cộng ngay giữa các căn cứ quân sự Mỹ ở Sài Gòn”. Đặc biệt là hàng tuần đều có chuyến bay liên lạc giữa trại David với Bộ Chỉ huy Miền ở Lộc Ninh, đòi hỏi sự theo dõi chặt chẽ và “chu đáo” của bọn tình báo Mỹ. Không lâu sau đó, tình báo Mỹ đã xác định được lai lịch của “Đại tá Việt cộng Trần Quốc Minh” – Phó trưởng đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. “Nhân vật” này không xa lạ gì với bọn tình báo, quân báo Mỹ, ngụy. Frank Snepp – chuyên gia cao cấp phân tích tin tức tình báo về Cộng sản của chi nhánh CIA ở Việt Nam đã đánh giá nhân vật này là một trong bốn nhà tình báo “gộc” của Việt Nam. Đó là Trần Văn Danh (bí danh Ba Trần), Phó tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Miền kiêm Trưởng ban tình báo chiến lược, phụ trách công tác tình báo, đặc công, biệt động. Vào đầu tháng 1 năm 1973, tại Sở chỉ huy Miền, chính Ba Trần đã nhận được chỉ thị của Trung ương là cùng với tướng Trần Văn Trà bàn bạc chọn nhân sự, phân nhiệm, chuẩn bị tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống bất trắc... để về Sài Gòn tham gia vào Ban liên lạc quân sự bốn bên thực thi Hiệp định Pa-ri. Trong lúc trung tướng Trần Văn Trà túi bụi với những cuộc họp Bộ Chỉ huy Miền để bàn cách phối hợp đấu tranh giữa chiến trường và bàn hội nghị, thì Ba Trần cũng bận tối ngày để chỉ huy thực hiện mọi công việc cho chuyến vào Sài Gòn chẳng biết đến bao giờ mới ra.

Vừa triển khai phương án phòng thủ chiến lược ở trại David xong, linh cảm của một cán bộ tình báo lão luyện mách cho Ba Trần biết là bọn CIA đang ráo riết truy cứu lý lịch của ông và sớm muộn gì chúng cũng sẽ phát hiện lai lịch ông cùng với gia đình. Do đó Ba Trần liền bí mật báo cho vợ là bà Nguyễn Thị Hoa đang sống cùng bốn đứa con ở quê nhà Hốc Môn phải cấp tốc đi vào Khu. Đúng như dự đoán, bà Hoa cùng các con vừa chuyển đi đêm trước thì sáng hôm sau bọn mật vụ, cảnh sát chìm đã ập đến tận nhà.



Hỏi đâu thác nhảy cho điện quay chiều:

Năm 1978, Thiếu tướng Danh làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Là một nhà tình báo, ông luôn coi trọng mọi hồ sơ tài liệu. Trên cương vị của mình, nhân lúc phân loại các hồ sơ mật của chính quyền Sài Gòn để lại. Qua nghiên cứu phân tích nhiều loại, nào là quân sự, kinh tế, chiến tranh tâm lý, may mắn thay, trong số đó ông bắt gặp sơ đồ thiết kế công trình thủy điện Trị An. Chưa biết trong ấy họ nói những gì chi tiết nhưng chắc chắn đó là điều mà xã hội đòi hỏi cấp thiết.

Tình hình đất nước vào thời điểm ấy nói chung, các tỉnh phía Nam nói riêng, trong đó có thành phố mang tên Bác thiếu điện trầm trọng. Điện ưu tiên cho sản xuất cũng hẫng hụt, nhiều hoạt động khác phải ngưng trễ. Còn điện sinh hoạt cho dân thì cực kỳ khó khăn.

Đồng chí Ba Trần kể lại : thế rồi trong lúc phân loại các tài liệu, gặp được bản đồ án thiết kế ấy tôi mừng không sao tả xiết. Mừng, nhưng chưa dám nói với ai, bởi quy mô công trình nó lớn quá, nếu đầu tư công, của không đơn giản chút nào. Trong khi đó tình hình đất nước còn cực kỳ khó khăn, vả lại mình vốn là một người lính chủ yếu quen với trận mạc. Khả năng kiến thức về xây dựng công trình tầm cỡ quốc gia như thế đòi hỏi kỹ năng khoa học cao mới đủ lý luận và thực tiễn để thuyết phục... Vì vậy, liệu mình trình bày có được sự đồng tình ủng hộ hay lại trở thành hài hước, đàm tiếu cho thiên hạ thì... chua lắm ! “Chua” ở đây không phải số đồng tình nhiều hay ít, tỷ lệ cao hay thấp, điều đó cũng là chuyện bình thường. Song cái quan trọng hơn ở chỗ bản lĩnh, trí tuệ được thể hiện trách nhiệm công dân với đất nước, quê hương. Mỗi lần đi sâu nghiên cứu bản đồ án như có sức ma lực thu hút tâm trí ông.

– Phải đề xuất chính kiến của mình với tập thể càng sớm càng hay. Nếu được, càng ích lợi cho xã hội - có sao đâu ? - Ông nghĩ thế. Hơn nữa, chế độ cũ trước đây họ cũng đã có ý đồ làm hệ thống công trình thủy điện thượng nguồn sông Đồng Nai rồi kia mà. Họ còn chia làm nhiều hạng mục : thủy điện Đồng Nai 1, thủy điện Đồng Nai 2 rồi thủy điện Đồng Nai 3 và cả đập thủy điện Sông Hinh ở ngoài miền trung. Tuy nhiên, thủy điện Đồng Nai 1 - tức là khu vực công trình Trị An bây giờ có tính khả thi hơn cả. Song vì chiến tranh, mà đập lại nằm sâu trong chiến khu Đ do ta kiểm soát gắt gao, nên họ còn lo ngại chưa triển khai được.

Thế rồi, trong một hội nghị Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 4 khóa 3 năm 1984, ông trình bày luận điểm của mình với cơ quan lãnh đạo cao nhất của thành phố. Tuy nhiên cũng có những ý kiến tranh luận qua lại, phân tích để thêm sáng tỏ. Song, cơ bản nhất trí rất cao. Đặc biệt đồng chí Võ Văn Kiệt, trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy tỏ vẻ rất phấn chấn. Ông Sáu Dân còn nói trước cuộc họp :

– Để tôi ra Hà Nội báo cáo với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Chính phủ. Nếu được cấp trên chấp thuận thì đưa anh đi nghiên cứu có được không ? 

Tôi trả lời anh Sáu :

– Cái đó thì tùy trên định liệu, nếu được tôi cũng sẵn sàng vào trận mới. 

Tất cả cử tọa vang lên một tràng pháo tay rất sôi nổi, thêm cả tiếng cười rộn ràng. Có người còn nói vui :

– Chất lính của vị tướng còn đậm đà lắm, hừng hực như đang giữa trận tiền vậy.

Sau chuyến ra Hà Nội của đồng chí Bí thư Thành ủy, Trung ương và Chính phủ đã đồng ý căn bản đề nghị của thành phố Hồ Chí Minh. Thế là, bước đầu về mặt pháp lý đã có cơ sở. Điều quan trọng là tìm người chỉ đạo, điều hành.

Có lần anh Sáu Dân gặp tôi, gợi ý :

– Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố rà soát để cử người chủ trì công trình mà chưa tìm được ai. Ngoài Trung ương cũng thế chưa chọn được ai cả. Mấy ổng còn nói trong này nhắm người rồi báo cáo cho họ biết. Anh Sáu khêu gợi :

– Anh nên làm anh Ba à. Anh nói vậy chắc anh làm được và làm tốt là đằng khác – tôi tin tưởng sẽ là như vậy. Anh trực tiếp chỉ đạo luôn – tụi này sẽ cùng sát cánh và nhờ cả Trung ương, Chính phủ hỗ trợ tối đa, anh cứ yên tâm đi. Nói rồi, anh bắt tay tôi rất chặt, tỏ vẻ hớn hở và hết sức cởi mở thân tình như những ngày gian khổ trước đây.

Tính ổng mình biết, đã nói là làm, mà làm phải tới nơi, tới chốn, không lơ mơ được đâu. Trên đã gửi gắm niềm tin thì người lính già này cũng phải dốc lòng dốc sức còn lại để phụng sự đất nước chớ sao. Ba Trần này nghĩ vậy và như thấy mình phấn chấn, rạo rực chờ ngày bắt tay vào công việc mà chưa thể lường hết chồng chất từng khó khăn. Và sau đó ít lâu, ông được Trung ương, Chính phủ điều động sang làm Thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An.
@3.